VÔ ĐỐI MÔN - LÝ TỨ - PHẦN 11
Đúng chánh pháp nguyên chất sẽ cho ra ba sản phẩm cao cấp, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ.
Những sản phẩm cao cấp này, ngoài nguyên liệu là chánh pháp mới có thể làm ra nó, sẽ không còn một thứ nguyên liệu nào khác trên đời, có thể làm ra.
24. Chánh Pháp Nguyên Chất, Loài Nga Vương Là Gì?
Đúng chánh pháp nguyên chất sẽ cho ra ba sản phẩm cao cấp, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Những sản phẩm cao cấp này, ngoài nguyên liệu là chánh pháp mới có thể làm ra nó, sẽ không còn một thứ nguyên liệu nào khác trên đời, có thể làm ra.
Hỏi: Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy với đại ý: “Trong thời mạt pháp, chánh pháp của Đức Thế Tôn bị pha loãng. Giống như những người bán sữa, đã pha loãng sữa qua năm mươi lần.” Xin hỏi: Sữa mà pha năm lần, tức một sữa năm nước đã không còn ý vị gì của sữa nữa rồi. Huống hồ, pha đến lần thứ năm mươi, phỏng người đời nay tu hành trong Phật Đạo, có còn chút lợi ích gì của chánh pháp?
Đáp: Trong Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng có nói: “Tuy sữa đã pha lần thứ năm mươi nhưng khi nấu cháo, thứ cháo sữa này ăn vào, vẫn còn ý vị hơn thứ cháo nấu bằng nước lạnh…” Vì thế, nếu không có cháo sữa nguyên chất, thì ta tạm ăn thứ cháo có chút mùi sữa vậy.
Hỏi: Có cách gì tìm thứ sữa chánh pháp nguyên chất trong thời mạt pháp này hay không?
Đáp: Tất nhiên là có, vì Tam Bảo thường trụ mà.
Hỏi: Tìm những điều đó bằng cách nào?
Đáp: Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng dạy: “Có loài Nga Vương, khi thọc mỏ vào hỗn hợp hòa tan sữa với nước để uống, con Nga Vương chỉ hút lấy sữa, còn nước thì chừa lại.”
Theo như lời dạy của Phật, cho dù sữa đã pha năm mươi lần, chứ đến năm trăm lần, đối với con Nga Vương cũng không khó khăn gì. Khi con Nga Vương muốn uống sữa nguyên chất, cho dù sữa ấy đã bị hòa tan trong nước, nhất định nó vẫn sẽ hút được.
Như thế, có thể hiểu, cho dù cách xa Phật nhiều ngàn năm nhưng những gì Đức Phật nói ra được ghi lại trong kinh tạng thì nếu đúng là loài Nga Vương, nó vẫn có thể rút ra ý vị chân thật của chánh pháp không hề sai lệch, cho dù ngay trong thời mạt pháp này.
Hỏi: Làm sao để biết đó là ý vị nguyên chất của thứ sữa chánh pháp được rút ra từ trong hỗn hợp đã pha quá loãng ở thời mạt pháp này?
Đáp: Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng có dạy đại ý: “Nếu là sữa nguyên chất, qua bàn tay thiện xảo của người biết chế biến, mùi vị ấy có thể chế biến thành lạc, tô và đề hồ”. Cho nên, sữa nguyên chất không chỉ có công dụng ít ỏi như là nấu cháo cho người bệnh, mà còn trở thành những sản phẩm thượng diệu như: Lạc, tô và đề hồ.
Vì thế, ở đâu có lạc, tô và đề hồ thì biết rằng ở đó có sữa nguyên chất.
Hỏi: Các sản phẩm lạc, tô và đề hồ được chế biến từ sữa nguyên chất, có ý nghĩa gì tương ứng với các sản phẩm cho ra từ chánh pháp?
Đáp: Nếu sữa nguyên chất, nhất định cho ra ba sản phẩm chánh là lạc, tô và đề hồ. Đúng chánh pháp sẽ cho ra ba sản phẩm cao cấp, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Những sản phẩm cao cấp này, ngoài nguyên liệu là chánh pháp mới có thể làm ra nó, sẽ không còn một thứ nguyên liệu nào khác trên đời, có thể làm ra.
Hỏi: Vì sao nói rằng: đúng chánh pháp sẽ cho ra ba chánh phẩm cao cấp đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ mà không nói đến những thứ phẩm khác?
Đáp: Những thứ phẩm khác, giống như “cháo sữa”, chỉ là sản phẩm bất đắc dĩ, Công dụng của nó tạm dùng làm thức ăn dễ tiêu hóa cho người bệnh. Vì thế, thứ phẩm như cháo sữa, không phải là sản phẩm chính thuộc về mong ước của người sở hữu sữa nguyên chất.
Hỏi: Như vậy, quá trình trích ly lấy sữa nguyên chất từ sữa đã pha loãng, giữa con Nga Vương và loài không phải là Nga Vương khác biệt chỗ nào?
Đáp: Phật dạy, cũng đồng thời tu hành trong Phật Đạo, nhưng quá trình trích ly từ giáo pháp để thu hoạch sản phẩm, do trình độ sai biệt nên có năm thừa ra đời. Đó là Nhân thừa, Thiên thừa, Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) và Bồ Tát (Phật) thừa.
Hỏi: Kỹ thuật trích ly sữa trong nước của năm thừa, cơ bản khác nhau như thế nào?
Đáp: Cơ bản của năm thừa, khác nhau do trình độ nhận thức về giáo pháp, nên khi trích ly giáo pháp từ khối lượng đồ sộ của kinh điển, từng thừa cho ra những sản phẩm tương đương với trình độ nhận thức và kỹ thuật của họ. Giá trị sản phẩm cũng chỉ tương đương với những gì họ thu hoạch được sau khi trích ly. Giống như sữa nguyên chất, sau khi hòa tan, tùy vào công nghệ kỹ thuật lạc hậu hay tối tân, mà người ta thu hoạch được các loại sữa cao cấp hay tầm thường.
Hỏi: Xin Thầy nói rõ, nhận thức khác biệt của năm “thừa”?
Đáp: Năm thừa có năm tầng nhận thức khác nhau về việc tu hành trong Phật Đạo. Đó là năm nhãn quan của từng tầng bậc tu hành, Phật Đạo gọi nôm na là “ngũ nhãn”, ngũ nhãn gồm: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn và Phật nhãn.
Hỏi: Năm nhãn quan đó khi soi chiếu vào kinh điển, sẽ cho ra kết quả như thế nào?
Đáp:
- Nhục nhãn: Thuộc về Nhân thừa, gồm những người tu hành trong Phật Đạo, đọc tụng kinh điển chỉ tìm thấy trong đó các ý nghĩa thuộc về luân lý đạo đức hay tôn giáo. Vì thế, khi ứng dụng giáo pháp của Phật, kết quả đạt được là một con người tốt, có đạo đức trong xã hội. Hạng này giống như, người bệnh phong hàn lại đi ngoài gió mưa, chỉ mong tìm chỗ kín đáo để ẩn nấp, không cầu mong thứ gì cao xa hơn..
- Thiên nhãn: Thuộc về Thiên thừa, gồm những người tu hành trong Phật Đạo, nhưng chỉ mong ước trở thành thiện nhân, chuyên làm phước bố thí để được quả báo lành. Cao hơn nữa, là những vị tu hành, rút tỉa ý nghĩa kinh điển vun bồi cho sức thiền định. Hạng này chỉ mong được chút thiền định phòng thân, ngoài ra không dám mơ ước khác.
Hai hạng này, Phật Đạo gọi là “Phước Sanh Thiên” và “Định Sanh Thiên”. Giống như người bệnh kinh niên, lâu ngày không ăn uống được, nay gặp chút cháo sữa, ăn vào thân thể dễ chịu. Sau đó ngày ngày, người đó quyết ăn cho được cháo sữa mới thôi và với họ chỉ có “cháo sữa và cháo sữa là bậc nhất.”
- Pháp nhãn: Thuộc về người có Giác Ngộ chân chánh trong Phật Đạo. Hạng này đọc kinh điển, nhìn thấy tất cả ý nghĩa ở trong đó đều quy về Thanh Tịnh Tâm, hạng này, Phật Đạo gọi là đắc “Pháp Nhãn Thanh Tịnh”! Giống như người bệnh, trong lúc uống thuốc, nhờ đúng thuốc mà bệnh tình thuyên giảm, thân tâm an ổn, càng uống càng sảng khoái, càng uống càng mau hết bệnh.
- Huệ nhãn: Thuộc về những người đã thành tựu Giác Ngộ và Giải Thoát, đang trên đường tu học Huyễn Trí. Hạng này khi đọc tụng kinh điển, tìm thấy các huyễn pháp do Phật và chư Bồ Tát tuyên thuyết trong đó. Họ tư duy, thấu suốt và học tập những huyễn pháp này, đến khi có cơ hội, sẽ như pháp mà giúp người, hạng này, Phật Đạo gọi là đắc Huệ Nhãn. Giống như một vị Dược Sư, khi cầm viên thuốc lên, vị này liền tìm hiểu thành phần và cách chế tạo món thuốc đó.
- Phật nhãn: Thuộc về Vô Sư Trí. Khi đọc kinh điển Phật để lại, vị này thấu suốt nguyên ủy vì sao trong hoàn cảnh này Phật thuyết điều này, mà không thuyết điều kia. Vì sao, trong hoàn cảnh kia, Phật nói như vậy mà không nói như vậy.
Giống người trên đỉnh cao, có thể chỉ cho tất cả những người đang ở dưới chân núi từ mọi phương hướng, đều có thể lên đến đỉnh núi an toàn. Hoặc giống như lương y giỏi, có thể cứu chữa tất cả bệnh nhân, chỉ trừ người “mang nghiệp phải chết để đền tội” và “hạng không chịu uống thuốc”.
- Tóm lại, tùy theo nhận thức của từng chủng tánh sai biệt nên trong một Phật Đạo lại có năm thừa. Mỗi thừa lại theo nhãn quan, trình độ của mình rút tỉa và ứng dụng giáo pháp trong phạm vi phù hợp với từng chủng tánh, giống như con voi chở nhiều, con thỏ chở ít. Chuyện này cũng không có gì là lạ.
Hỏi: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, thời mạt pháp “Bạch y xưng làm bậc mô phạm, còn Tỳ-kheo vô thức theo đó mà học.” Điều này là đúng hay sai?
Đáp: Trong Bồ Tát Đạo, người có trí tuệ dạy người vô trí, không phân biệt hình tướng. Những thứ: chánh, tượng, mạt pháp gì cũng không ra khỏi quy luật này.
Dưới thời Phật tại thế cũng như vậy, phần lớn các Đại Bồ Tát là bạch y, nên có danh xưng Đại Sĩ. Vì rằng, học Phật Đạo là học chân lý, chứ không phải học hình tướng. Ở đâu có chân lý thì đến đó cầu học. Đời và đạo, xưa nay đều tôn trọng điều này. Cho đến tiền thân Bồ Tát Thích Ca còn phải cầu học hai câu kệ nơi con quỷ La Sát.
Vì thế, có lẽ nên nói lại rằng: “Những ai đã là Phật Tử, biết rõ nơi nào có chân lý, mà không tìm đến để cầu học, hạng này nhất định sinh ở đâu, thì ở đó là mạt pháp, bất kể hình tướng của kẻ đó như thế nào”. Vả chăng, những tác phẩm đời sau, chưa chắc đủ sức làm mẫu mực trong Phật Đạo, cũng chưa phải là nơi nhất định mọi người tu hành y cứ để xem đó như kim chỉ nam.
Chuyện trên giống như nhà kia, cha mẹ không đủ năng lực để dạy dỗ con cái. Thế nên buộc lòng con cái phải nhờ anh em, hàng xóm, hoặc người ngoài xã hội dạy dỗ chúng. Điều này phận làm cha mẹ nên cảm ơn mới phải, cớ gì lại buông lời trách cứ những người tốt kia.
Còn nếu nói rằng: “Nghe lời bạch y, không nghe lời Tỳ Kheo vì thế nên gọi là mạt pháp.” Điều này giống như làm cha mẹ mà dạy dỗ thế nào, để con cái phải chạy ra ngoài đường cầu học cái tốt cái hay, cái có chân lý của người ta. Sau đó, những người ngày lại đổ thừa chỉ vì con cái học ở ngoài đường, mà ngày nay xa cội nguồn.
Thử hỏi, có thứ cội nguồn nào lại có thể gìn giữ trong gia đình mà các bậc tôn túc đáng kính trọng lại yếu kém năng lực giáo huấn bề dưới như vậy?
25. Ý Nghĩa Chân Thật Của Câu Tam Bảo Thường Trụ
Phật dạy: “Phật Tánh là thường” nên mới có Tam Bảo thường trụ. Mặt trời được ví như Phật Tánh. Ánh sáng Phật Trí từ Phật Tánh phát ra thường soi sáng vô minh tăm tối, ví như Pháp Bảo. Sức nóng của Trí Tuệ thường hong khô mọi thứ nước ái dục và lậu hoặc, ví như Tăng Bảo.
Hỏi: Tôi suy nghĩ mãi, mà không thể hiểu nổi ý nghĩa của câu “Tam Bảo Thường Trụ”. Xin thầy vui lòng giải thích ý nghĩa chân thật của câu đó.
Đáp: Phật dạy: “Phật Tánh là thường” nên mới có Tam Bảo thường trụ.
Hỏi: Cho dù Phật Tánh là thường, thì can hệ gì đến Pháp Bảo và Tăng Bảo. Pháp Bảo là kinh điển, bản thân cuốn kinh và lời kinh là hữu vi pháp, mà cái gì hữu vi, nhất định vô thường biến hoại. Tăng cũng như thế, không ngoại lệ. Xin giải thích cặn kẽ giùm tôi thắc mắc này.
Đáp: Tôi cho một ví dụ: Giả sử như mặt trời là thường thì ánh sáng và sức nóng của nó có thường chăng?
Hỏi: Tất nhiên, nếu mặt trời là thường thì những gì thuộc về nó cũng thường.
Đáp: Mặt trời được ví như Phật Tánh. Ánh sáng Phật Trí từ Phật Tánh phát ra thường soi sáng vô minh tăm tối, ví như Pháp Bảo. Sức nóng của Trí Tuệ thường hong khô mọi thứ nước ái dục và lậu hoặc, ví như Tăng Bảo. Ba bảo này là vô vi, chứ chẳng phải hữu vi, nên người đời khó có thể biết được.
Vì thế, Phật dạy: “Ai tin Tam Bảo thường trụ” sẽ phát sinh vô lượng công đức.
Hỏi: Tam Bảo thường trụ là vô vi. Nếu đã vô vi, làm sao có thể chứng thực được mà bảo rằng thường?
Đáp: Câu hỏi này có vấn đề, cần điều chỉnh lại. Không thể trả lời trước một câu hỏi bất hợp lý.
Hỏi: Điều nào là bất hợp lý, và nên điều chỉnh như thế nào?
Đáp:
Thứ nhất, không thể dùng một hữu vi để chứng thực cái vô vi. Bản thân ông đã là vô vi hay chưa, mà đòi tự mình chứng thực, đây là điều bất hợp lý.
Thứ hai, hỏi là để học, mà câu hỏi của ông chưa đúng thái độ của người cầu học. Vì thế, cần điều chỉnh ý nghĩa câu hỏi, người trí không nên hỏi những câu vô căn cứ như:
Tôi đang ở trong bóng tối, tại sao không thấy được ánh sáng? Xin chứng thực cho tôi, ánh sáng là gì?
Hỏi: Xin thưa! Vậy nên đặt câu hỏi như thế nào để vừa hợp với trình độ nhận thức của mình, vừa có ý nghĩa cầu học?
Đáp: Một câu hỏi thuộc nhận thức của mình, mà không tự đặt ra được. Làm sao có thể hiểu những điều sâu thẳm thuộc về vô vi trong Phật Đạo. Vậy nên, ông cố tư duy xem, nên đặt câu hỏi như thế nào để vừa “không bất hợp lý” vừa “tỏ rõ được thái độ cầu học”.
Hỏi: Trong nhất thời, tôi chưa thể nghĩ ra, xin thầy giảng giải thêm.
Đáp: Ông thấy đấy, người đời như ông, phần lớn ngã mạn nhưng lại thiếu trí, thường hay khoe khoang cái ngã của mình, nhưng chẳng tự biết đối với Phật Pháp đích thực, một chút bằng đầu sợi lông cũng chưa từng hiểu qua. Vì thế, chỉ quen đối đãi với nhau theo lề thói thế tục, riết thành bản năng tự nhiên. Không từng một lần ngồi xuống, tự xem xét lại bản thân, xem xét tâm trí này đang ở đâu nên cứ ngỡ mình là thánh nhân. Thánh nhân gì, những điều cơ bản nhất trong giao tiếp là hỏi đáp cũng không biết hỏi đáp cho đúng phép.
Nếu cứ sống với cái bề ngoài, hời hợt như vậy, khi nào mới trở thành một con người có đủ chiều sâu nội tâm tối thiểu, để đảm đang việc học tập trong Phật Đạo.
Điều này khiến tôi liên tưởng đến đám trẻ con chơi ngoài gốc cây, cả đám bầu một đứa làm thầy giáo, dạy dỗ lăng nhăng, hỏi đáp thiếu suy nghĩ lại vô căn cứ, nhưng chúng rất say mê với trò chơi này.
Sau đó, khi đám trẻ đến tuổi tới trường. Khi bắt chúng vô trường lớp đàng hoàng, học hành có quy củ, nói năng đúng trọng tâm, suy nghĩ phải chín chắn, nhất định bọn chúng sẽ trốn học tức thì.
Đâu, ông cố suy nghĩ xem, nên hỏi như thế nào cho phải phép, đừng có tự ái mà trốn học.
Hỏi: Đúng là xưa nay, bạ đâu hỏi đó, nhớ đâu trả lời đấy, thích gì làm nấy, chưa tự mình một lần xem xét câu hỏi, câu trả lời, hành động này đã thỏa đáng và hợp lý hay chưa?
Lời quở trách “như đám trẻ con” tuy nghe chói tai, nhưng thật chí tình.
Đáp: Hãy thử “một lần làm người lớn thực thụ trong Phật Đạo” xem như thế nào?
Hỏi: Xin cho hỏi, muốn hiểu được ý nghĩa Tam Bảo thường trụ là vô vi, tôi nên tu tập như thế nào?
Đáp: Câu hỏi cho thấy có chút trưởng thành. Muốn chứng thực như thế nào là vô vi, hãy bỏ hữu vi xuống.
Hỏi: Những gì được gọi là hữu vi theo ý nghĩa của Phật Đạo?
Đáp: Khi nào sáu căn xúc đối sáu trần, khởi lên các nhận thức hư vọng, những nhận thức hư vọng đó Phật Đạo gọi là hữu vi pháp.
Hỏi: Nhưng làm sao, khi căn đối trần, không khởi lên nhận thức hư vọng được?
Đáp: Nếu không thể làm được điều này, đành quay trở lại làm con nít vậy.
Hỏi: Có thể cho tôi chút thời gian, để tư duy một cách rành mạch, rõ ràng được không?
Đáp: Tất nhiên là được, mời ông dùng trà.
Hỏi: Xin cắt nghĩa cho tôi biết, thế nào gọi là nhận thức hư vọng?
Đáp: Nhận thức nào không như thật, nhận thức đó, Phật Đạo gọi là hư vọng.
Hỏi: Xin hỏi, thế nào gọi là nhận thức không như thật?
Đáp: Ví dụ như: Một người nghèo, nằm mơ thấy mình giàu và được hưởng thụ những tiện nghi đắt đỏ.
- Trong mơ lòng cảm nhận mình giàu có là “hư vọng tánh, hư vọng tâm”.
- Nhận thức về việc giàu sang trong mơ, là “nhận thức hư vọng”.
- Trong mơ mọi sự chung quanh đều như ý, là “hư vọng kiến”.
- Nhìn thấy mọi vật tốt đẹp như sự giàu sang kia, là “hư vọng cảnh”.
- Nói chung, thấy biết nào không bắt nguồn từ bản chất của sự vật, sự việc, Phật Đạo gọi là hư vọng.
Hỏi: Nhưng hiện tại, tôi đâu có mơ?
Đáp: Ông không thấy mình đang mơ, nhưng Phật và hiền thánh Tăng thấy ông đang mơ. Người ngủ mơ, đâu biết mình mơ, nếu biết thì đã không mơ rồi.
Hỏi: Xin ngài cho biết, tôi đang mơ điều gì?
Đáp: Ông đang mơ về chính ông. Ông đang mơ thế giới chung quanh theo nghiệp riêng của mình.
Hỏi: Mơ về chính tôi và mơ theo nghiệp riêng của mình như thế nào?
Đáp: Muốn biết những điều này: Ông hãy trả cái phán xét về thế giới là tốt hay xấu trong lòng của ông về đúng với bản chất vô tri của thế giới. Ông hãy trả cái nhận thức đúng sai trước một sự việc về với bản chất của sự việc là tự nó chẳng phải đúng, chẳng phải sai. Ông hãy trả chính ông về với bản nguyên của ông chưa từng sanh diệt.
Ông thử thực hiện thật tốt ba điều trên xem như thế nào, liệu có điều gì thay đổi hay không?
Hỏi: Mô Phật! Mô Phật! Tôi chẳng thấy có gì.
Đáp: Lúc ông chẳng thấy có gì, cái thấy đó có thuộc nhận thức hư vọng hay không?
Hỏi: Không thuộc nhận thức hư vọng, mà nó là cảm nhận chân thật của cái biết (tánh giác).
Đáp: Cảm nhận chân thật này là thường hay vô thường?
Hỏi: Là thường, chỉ khi mê nó bị che khuất.
Đáp: Người nào bắt ông mê muội?
Hỏi: Nếu không còn ai, thì chẳng có kẻ mê chẳng có người giác.
Đáp: Không mê không giác, gọi là gì?
Hỏi: Không mê không giác đích thực là vô vi.
Đáp: Vô vi đích thực là gì?
Hỏi: Chẳng rơi vào thấy đoạn hay thấy thường.
Đáp: Chẳng rơi vào đoạn kiến hay thường kiến, đó là gì?
Hỏi: Chánh Kiến.
Đáp: Dựa vào cái gì để biết đó là Chánh Kiến?
Hỏi: Tự biết, không do cái gì nên có Chánh Kiến, mà “Chánh Kiến cũng chẳng phải là pháp tạo tác”.
Đáp: Cái gì làm cho ông chấm dứt tạo tác sanh diệt?
Hỏi: Thấu suốt nguồn tâm, sẽ chấm dứt tạo tác sanh diệt.
Đáp: Cái gì giúp ông thấu suốt nguồn tâm?
Hỏi: Pháp của Phật do Ngài thiện xảo truyền đạt, giúp tôi thấu suốt nguồn tâm.
Đáp: Pháp đó là hữu vi hay vô vi?
Hỏi: Ra khỏi nhận thức của hữu vô!...
Đáp: Ra khỏi nhận thức hữu vô; “chân thật” nó là cái gì?
Hỏi: Ra khỏi nhận thức hữu vô, nên pháp này rốt ráo vô.
Đáp: Pháp rốt ráo vô, gọi là gì?
Hỏi: Rốt ráo vô, mới chân thật là Pháp Bảo.
Đáp: Pháp Bảo này là “thường” hay “vô thường”.
Hỏi: Pháp Bảo này là thường.
Đáp: Một thường, tất cả có thường chăng?
Hỏi: Như đèn soi bóng tối, một sáng tất cả sáng, một thường tất cả thường.
Đáp: Như vậy, Tam Bảo là vô vi hay hữu vi?
Hỏi: Tam Bảo đích thực là vô vi.
Đáp: Vô vi là “thường” hay “vô thường”?
Hỏi: Vô vi là thường! Vì thường nên thấy “một bảo” lập tức biết có “ba bảo”.
Đáp: Như vậy, ông còn thắc mắc gì về nghĩa Tam Bảo thường trụ, và có còn đòi chứng thực Tam Bảo vô vi nữa hay không?
Hỏi: Con biết vô vi chẳng thể đem cái hữu vi chứng thực, chỉ có mình “Tự Ngộ”?
Đáp: Ngộ như thế rồi, thì cần làm gì?
Hỏi: Nay con xin quy y Tam Bảo thường trụ.
Đáp: Đã quy y Tam Bảo thường trụ, nên phát ba thứ tự quy y chân thật:
- Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát Vô Thượng tâm.
- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, Trí Tuệ như biển.
- Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại.
Hỏi: Đã phát tam tự quy rồi, nay con nên làm gì tiếp theo?
Đáp: Lấy Chánh Kiến, rọi đến nơi nào, tâm thức này hãy còn tối tăm.
Tạm biệt! …
